18 đời Hùng Vương dựng nước

Thứ bảy, 24/4/2021, 11:45
Lượt đọc: 24
THẾ CHÍ 18 CHI ĐỜI HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC
Không có mô tả ảnh.
Với sự ra đời của bản "Ngọc Phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương Triều Hùng" thời Vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức Hậu Lê (1470- 1497) do Hàn lâm viện- Trực học sỹ Nguyễn Cố biên soạn đã cung cấp cho muôn đời con Lạc- cháu Hồng một niềm tự hào, một sự khẳng định: Vua Hùng dựng nước Văn Lang truyền được 18 chi đời, đóng đô ở trung tâm Bộ Văn Lang (thành phố Việt Trì ngày nay).

Tuy nhiên , hiện tại vẫn có nhiều người còn nghi hoặc về thế chí của 18 chi đời Hùng Vương dựng nước. Bài viết này cung cấp một số tư liệu bằng văn tự để người đọc có thể tham khảo nhằm hiểu được rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về 18 chi đời Hùng Vương dựng nước:

1. Thư tịch đinh làng Hà Lộc, xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ viết năm Thiên Phúc nguyên niên, tức năm thứ nhất Vua Lê Đại Hành (năm 980). Học viện Viễn Đông Bác Cổ chép lại năm 1943, hiện được lưu giữ trong kho sách thần tích của Viện nghiên cứu Hán Nôm tại Hà Nội (số liệu AE 9a/27).

2. Thư tịch đình làng Vân Luông, xã Vân Phú, TP. Việt Trì (bản chép tay lưu tại Ban quản lý di tích đình Vân Luông).

3. Thần tích xã Hy Cương, tổng Chu Hóa, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; hiện được lưu giữ trong kho sách thần tích của Viện nghiên cứu Hán Nôm tại Hà Nội (số hiệu EA9/25).

Sau khi nghiên cứu, đối chiếu những nội dung được chép trong 3 thư tịch nêu trên chúng tôi nhận thấy:

* Thứ nhất: Cả 3 văn bản đều cùng được ghi chép dưới thời Vua Lê Đại Hành và đều có chung dòng lạc khoản của năm viết là ngày 25 tháng Giêng, niên hiệu Thiên Phúc nguyên niên (Năm 980).

* Thứ hai: Các thư tịch trên đều có sự ghi chép tương đối thống nhất về các chi đời Hùng Vương, gồm:

+ Thế chí của mỗi chi.
+ Thời gian ở ngôi.
+ Cung phi, con, cháu, chắt
+ Miếu hiệu của từng chi.
+ Mỹ tự truy phong của người đời sau cho mỗi chi.

* Thứ ba: Việc truyền ngôi của Hùng Vương được trải dài suốt 18 chi đời Thánh Vương Triều Hùng (bắt đầu từ năm Nhâm Tuất- 2879 Tr.CN). Cụ thể như sau:

- Kinh Dương Vương (Chi thứ nhất – Chi Càn ) tên húy là Lộc Tục, ở ngôi 86 năm (từ 2879-2794 Tr.CN). Vua sinh con trưởng là Lạc Long Quân, hiệu là Sùng Lãm.

Kinh Dương Vương có 6 cung phi, sinh 24 hoàng tử và 20 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 36 chi, sinh 596 chắt. Vua cai trị, các chư hầu trong thiên hạ luôn cảm phục, bách man bốn phương đến làm khách, thuần phong mỹ tục hòa hợp; quần phương tám cõi cùng hưởng phúc thái bình, trong nước không thu thuế khóa, dân không dối trá.

- Lạc Long Quân tức Hùng Hiền Vương (chi thứ hai – chi Khảm), tên húy là Sùng Lãm, ở ngôi 269 năm (từ 2793-2525 Tr.CN). Hiền Vương lấy con gái của Đế Lai, tên là Âu Cơ, trở về ở núi Nghĩa Lĩnh, sinh một bọc trăm trứng, nở ra điềm tốt trăm người con trai, làm chủ nước Văn Lang, là thủy tổ của Bách Việt.

Hùng Hiền Vương có hoàng tôn miêu duệ gồm 170 chi, sinh 3.599 cháu, chắt. Vua trị nước, đều có thiên khí, đại bảo, thần tài hỗ trợ, là việc xưa nay hiếm thấy. Sinh ra trăm hoàng vương, cai trị các khu vực trong nước, mỗi người cát cứ một phương, định làm bách tính, một nhà lưu truyền liệt thánh.

- Hùng Quốc Vương (chi thứ ba – Chi Cấn), tên húy là Lân Lang, ở ngôi 282 năm (từ 2524- 2253 Tr.CN). Vua hiển liệt cùng các tôn thần, hội họp tại điện, là một trong 50 vương theo mẹ trở về rừng phân trị trong nước, nối dựng cơ đồ, mạch nước dài lâu.

Hùng Quốc Vương có 12 cung phi, sinh được 33 hoàng tử, 18 công chúa, con trưởng Hùng Hoa Vương nối ngôi báu; có 51 chi, 900 cháu chắt. Vua trị nước, thăng tiến giữa ban ngày, hóa sinh bất diệt.

- Hùng Hoa Vương (chi thứ tư – Chi Chấn),tên húy là Bửu Lang, ở ngôi 334 năm (từ 2252-1918 Tr.CN). Vua hóa sinh bất diệt, thành kim tiên thượng giác, ở nơi ngọc khuyết, cai quản tam thiên tiên chúa. Sinh con trưởng là Hy Vương nối theo ngôi báu.

Hùng Hoa Vương có 24 cung phi, sinh được 49 hoàng tử, 20 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 59 chi, cộng 1.591 cháu chắt. Bấy giờ vua cai trị thiên hạ, bách tính thần dân không phải nộp thuế, không cần phải động binh, chỉ lấy việc nông tang làm gốc, bốn phương giàu có, thiên hạ hùng cường .

- Hùng Hy Vương (chi thứ năm – Chi Tốn), tên húy là Bảo Lang, ở ngôi 204 năm (từ 1917 – 1713 Tr.CN). Sinh con trưởng là Hồn Vương, truyền ngôi cai trị.

Hùng Hy Vương có 36 cung phi, sinh được 12 hoàng tử, 9 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 61 chi, với 1600 cháu chắt. Vua cai trị, thiên hạ hưởng thái bình, dân không giả dối. Việc binh, hộ cứ theo triều trước mà noi gương.

- Hùng Hồn Vương (chi thứ sáu – Chi Ly) tên húy là Long Tiên Lang, ở ngôi 80 năm (từ 1712- 1632). Sinh con trưởng Chiêu Vương, truyền đời cai trị.

Hùng Hồn Vương có 48 cung phi, sinh được 33 hoàng tử, 19 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 52 chi, sinh 699 cháu chắt. Vua trị nước, tuân theo phép độ của tiền vương. Bấy giờ lập đàn cầu đảo trời, lòng người không thuận, sửa lễ dối trá, quần thần dèm pha, trời sinh giặc Ân xâm lược ở phía Bắc.

- Hùng Chiêu Vương (chi thứ bảy – Chi Khôn) tên húy là Quốc Lang, ở ngôi 200 năm (từ 1631- 1432). Vua lấy bà Năng Thị Tiêu ở núi Tam Đảo, lập làm hoàng phi. Sinh con trưởng là Ninh Vương, truyền vương cai trị.

Hùng Chiêu Vương có 60 cung phi, sinh được 23 hoàng tử, 36 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 59 chi, sinh 750 cháu chắt. Bấy giờ vua cai trị, thiên hạ thái bình, chư hầu phục tùng, dân không cướp trộm, không thu thuế ruộng đất.

- Hùng Ninh Vương (chi thứ tám – Chi Đoài) tên húy là Vân Lang, ở ngôi 100 năm (tù 1431-1332 Tr.CN). Sinh con trưởng Định Vương, truyền vương cai trị.

Hùng Ninh Vương có 29 cung phi, sinh được 31 hoàng tử, 16 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 47 chi, với 579 cháu chắt. Vua trị nước, thiên hạ thái bình, dân đinh theo cựu lệ.

- Hùng Định Vương (chi thứ chin – Chi Giáp) tên húy là Chân Nhân Lang, ở ngôi 80 năm (từ 1331 – 1252). Sinh con trưởng Uy Vương, nối ngôi giữ nước.

Hùng Định Vương có 46 cung phi, sinh được 33 hoàng tử, 9 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 42 chi, có 519 cháu chắt. Vua trị vì thiên hạ thái bình, người dân theo cựu lệ nộp thuế, nhập vào công khố.

- Hùng Uy Vương (chi thứ mười – Chi Ất)) tên húy là Hoàng Long Lang, ở ngôi 90 năm (từ 1251 – 1162). Sinh con trưởng Trinh Vương, truyền vương cai trị.

Hùng Uy Vương có 40 cung phi, sinh được 29 hoàng tử, 30 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 59 chi, với 434 cháu chắt. Vua cai trị thiên hạ, bốn biển thanh bình, dân đinh theo cựu lệ, nộp tiền nhập vào công khố.

- Hùng Trinh Vương (chi thứ mười một – Chi Bính) tên húy là Hưng Đức Lang, ở ngôi 107 năm (từ 1161 – 1055).Sinh con trưởng Vũ Vương lên nối ngôi, truyền vương cai trị.

Hùng Trinh Vương có 36 cung phi, sinh được 46 hoàng tử, 18 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 64 chi, có 490 cháu chắt. Vua trị nước, ngoại nội yên vui, không dùng giáo giáp, tiền thu được nhập vào công khố.

- Hùng Vũ Vương (chi thứ mười hai – Chi Đinh) tên húy là Đức Hiền Lang, ở ngôi 80 năm ( từ 1054- 969 Tr.CN). Sinh con trưởng Việt Vương lên nối ngôi, truyền đời cai trị.

Hùng Vũ Vương có 25 cung phi, sinh được 50 hoàng tử, 6 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 50 chi, với 305 cháu chắt. Vua trị vì, thiên hạ thanh bình, chư hầu trong nước cảm phục, thuế suất đinh nộp nhập vào công khố.

- Hùng Việt Vương (chi thứ mười ba – Chi Mậu) tên húy là Tuấn Lang, ở ngôi 114 năm ( từ 968- 854 Tr.C). Sinh con trưởng Anh Vương lên nối ngôi, truyền đời giữ nước.

Hùng Việt Vương có 31 cung phi, sinh được 27 hoàng tử, 30 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 67 chi, sinh cháu chắt được 541 người. Vua trị nước, thiên hạ thái bình, dân không giả dối. Đinh mỗi suất nộp tiền 1 mạch, nhập công khố.

- Hùng Anh Vương (chi thứ mười bốn –Chi Kỷ), tên húy là Viên Lang, ở ngôi 99 năm (từ 853- 755 Tr.CN). Sinh con trưởng Triệu Vương lên nối ngôi, truyền đời vương cai trị.

Hùng Anh Vương có 8 cung phi, sinh được 18 hoàng tử, 20 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 40 chi, với 309 cháu chắt. Vua trị nước, thiên hạ thái bình, bốn phương yên ổn, dân đinh mỗi suất nộp tiền thuế 1 thạch, nhập vào công khố.

- Hùng Triệu Vương (chi thứ mười lăm – Chi Canh), tên húy là Cảnh Chiêu Lang,ở ngôi 94 năm (từ 754- 661 Tr.CN). Sinh con trưởng Tạo Vương lên nối ngôi, truyền đời vương cai trị.

Hùng Triệu Vương có 60 cung phi, sinh được 40 hoàng tử, 60 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 56 chi, với 399 cháu chắt. Vua trị nước, thiên hạ thái bình, mỗi suất đinh nộp tiền 18 văn, nhập vào công khố.

- Hùng Tạo Vương (chi thứ mười sáu – Chi Tân), tên húy là Đức Quân Lang, ở ngôi 92 năm (từ 660- 569 Tr.CN). Sinh con trưởng Nghị Vương lên nối ngôi, truyền các đời vương cai trị.

Hùng Tạo Vương có 29 cung phi, sinh được 30 hoàng tử, 7 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 37 chi, với 319 cháu chắt. Vua trị quốc, thiên hạ thái bình, trăm họ giàu sang phú qúy, mỗi suất đinh nộp tiền 1 mạch, nộp tại công khố.

- Hùng Nghị Vương (chi thứ mười bảy – Chi Nhâm), tên húy là Bảo quang Lang, ở ngôi 160 năm (từ 568- 409 Tr.CN), thọ 217 tuổi. Sinh con trưởng Duệ Vương lên nối ngôi, truyền các đời vương cai trị.

Hùng Nghị Vương có 39 cung phi, sinh được 20 hoàng tử, 15 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 37 chi, với 291 cháu chắt. Vua trị nước, giữ gìn hồng phúc dài lâu, người dân không phải như bầy cáo chuột. Dân đinh mỗi suất nộp tiền 3 mạch, giao tại công khố, ruộng 1 mẫu thu thuế 10 văn, 50 suất đinh chọn 01 suất lính.

- Hùng Duệ Vương (chi thứ mười tám – Chi Quý), tên húy là Huệ Lang, ở ngôi 150 năm (từ 408- 258 Tr.CN). Vua cùng với rể hiền Tản Viên thăng thiên giữa ban ngày ở thượng điện, biến thành tiên, hóa sinh bất diệt, tung tích vạn cổ, đứng đầu Thánh vương, Thiên vương tối linh thượng đẳng bách thần. Truyền các đời vương cai trị. Ban đầu truyền ngôi cho con trưởng là Kính Vương cai trị được 6 năm thì ốm chết. Vua truyền ngôi tiếp cho Tản Viên Sơn, chế định thiên hạ. Được 10 năm, cha con đồng lòng hóa thành thượng tiên chính giác, đại pháp thần thông, làm người tiên thiên vạn cổ bất diệt, rồi nhượng ngôi cho Thục An Dương Vương, cũng là tôn điệt Hùng Vương, là tông phái của hoàng đế triều trước, là cháu mười sáu đời làm Bộ chúa Phụ đạo.

Hùng Duệ Vương có 100 cung phi. Sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, hoàng tôn miêu duệ gồm 21 chi, với 194 cháu chắt. Việc trị nước đến lúc cáo chung, cơ đồ nhà Hùng mạt vận, 20 hoàng tử cùng 4 công chúa đều chết sớm, chỉ còn hai người: một người là Mỵ Nương Tiên Dung công chúa gả cho Chử Đồng Tử; một người là Mỵ Nương Ngọc Hoa công chúa gả cho Tản Viên Sơn Thánh. Vua Hùng Duệ Vương và Tản Viên Sơn Thánh, cùng hóa thành tiên bất diệt, xưa nay thực đáng là bậc minh vương đại thánh, đời sau không ai sánh kịp.

Trở lên tính trong 18 chi đời, các Vua Hùng đã truyền ngôi Thánh Vương cho 180 đời kế vị. Tổng cộng các năm của 18 chi đời Thánh Tổ Hùng Vương là 2.622 năm, sinh được 1.007 chi; các hoàng tử, công chúa sinh được 14.115 cháu, chắt. Núi sông quy về một mối, kiến lập được 122 thành điện. Miếu hiệu Hùng Vương Thánh Tổ, phụng thờ khắp đầu non góc biển trong biên cõi cả nước, vạn cổ trường tồn, mãi mãi không bao giờ dứt.

Theo PTO
Trường Mầm non Bến Thành - Phường Bến Thành

Địa chỉ:

87-89 Sương Nguyệt Ánh, Phường Bến Thành, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 38394941

Tập đoàn công nghệ Quảng Ích